Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19/6/2014, có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2015 (viết tắt là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Ngày 31/12/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (viết tắt là
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP). Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch
số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 Hướng dẫn thi hành một
số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (viết tắt là Thông tư liên tịch
số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP).
Pháp luật hiện hành có những quy định về tài sản riêng vợ, chồng như sau:
1. Tài sản riêng của vợ,
chồng
Theo quy định tại Điều
43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng gồm:
(1) Tài sản mà mỗi người
có trước khi kết hôn.
(2) Tài sản được thừa kế
riêng trong thời kỳ hôn nhân.
(3) Tài sản được được
tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.
(4) Tài sản được chia
riêng trong thời kỳ hôn nhân từ tài sản chung vợ chồng.
(5) Tài sản phục vụ nhu
cầu thiết yếu của vợ, chồng.
(6) Tài sản được hình
thành từ tài sản riêng của vợ, chồng.
(7) Hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản được chia riêng trong thời kỳ hôn nhân từ tài sản chung vợ
chồng.
(8) Tài sản khác mà theo
quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
* Lưu ý:
Điều 11 Nghị định số
126/2014/NĐ-CP hướng dẫn về tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của
pháp luật, gồm:
- Quyền tài sản đối với
đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
- Tài sản mà vợ, chồng
xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có
thẩm quyền khác.
- Khoản trợ cấp, ưu đãi
mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với
cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
2. Chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản riêng
Điều 44 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như
sau:
(1) Vợ, chồng có quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài
sản riêng vào tài sản chung.
(2) Trong trường hợp vợ
hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho
người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài
sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
(3) Nghĩa vụ riêng về
tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
(4) Trong trường hợp vợ,
chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống
duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của
chồng, vợ.
3. Nghĩa vụ riêng về tài
sản của vợ, chồng
Theo quy định tại Điều
45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài
sản sau đây:
(1) Nghĩa vụ của mỗi bên
vợ, chồng có trước khi kết hôn;
(2) Nghĩa vụ phát sinh
từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ
phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng mà
hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc
tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn
thu nhập chủ yếu của gia đình.
(3) Nghĩa vụ phát sinh
từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
(4) Nghĩa vụ phát sinh
từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.
4. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào
tài sản chung
Điều 46 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 quy định về nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản
chung như sau:
(1) Việc nhập tài sản
riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ
chồng.
(2) Tài sản được nhập
vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài
sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức
đó.
(3) Nghĩa vụ liên quan
đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung,
trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.