Tìm hiểu quy định Bộ luật Dân sự 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao
dịch dân sự là gì
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi
pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự.
2. Các trường hợp giao dịch
dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có một trong các điều kiện
như: Chủ thể có năng lực pháp luật dân
sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể
tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao
dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác
Hình thức của giao dịch dân sự là điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.
Các trường hợp cụ thể được quy định từ Điều
123 đến Điều 129 Bộ luật Dân sự.
3.
Phân loại giao dịch vô hiệu
Các trường hợp giao dịch
bị vô hiệu có thể được phân thành hai nhóm chính: Vô hiệu tuyết đối (hay còn
gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (hay còn gọi là vô hiệu bị
tuyên).
3.1. Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối
- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật,
trái đạo đức xã hội (Điều 123 Bộ luật dân sự 2015)
Điều cấm của luật là những quy định của
luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã
hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
- Giao dịch dân sự vô hiệu
do giả tạo (Điều 124 BLDS
2015)
Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che
giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao
dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô
hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan; Trường hợp xác
lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao
dịch dân sự đó vô hiệu.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân
thủ quy định về hình thức
(Điều 129 BLDS 2015 trừ các trường hợp:
+Giao
dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không
đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba
nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.
+ Giao dịch dân sự
đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng,
chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ
trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định
công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực.
3.2. Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu
tương đối
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người
mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 BLDS
2015)
Khi
giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của
người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật
giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ
những trường hợp sau:Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng
lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;Giao
dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa
thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã
xác lập, thực hiện giao dịch với họ;Giao dịch dân sự được người xác lập giao
dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực
hành vi dân sự.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126
BLDS 2015)
Trường
hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên
không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp:
Giao dịch dân sự
được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập
giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay
được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt
được.
- Giao dịch dân sự
vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127 BLDS 2015)
Khi một bên tham gia giao
dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Những giao dịch
được xác lập do lừa dối, đe dọa, cưỡng ép chỉ bị vô hiệu khi có yêu cầu của bên
bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép và toà án chấp nhận yêu cầu đó. Như vậy, những
giao dịch được xác lập do các tác động này vẫn có hiệu lực nếu không có yêu cầu
của bên bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép.
- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 BLDS 2015)
Người có năng lực
hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và
làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch
dân sự đó là vô hiệu.
4. Hậu quả pháp
lý của giao dịch dân sự vô hiệu
- Giao dịch dân sự
vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các
bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
- Khi giao dịch
dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận.
Trường hợp không
thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
- Bên ngay tình
trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
- Bên có lỗi gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
Đậu Thị Ngọc Hiền, Văn phòng HĐND và UBND