Những nội dung cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng
Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số
132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Luật sửa đổi, bổ sung
số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng có một số điểm mới quan trọng sau
1. Quy định về tiêu chí đánh giá công tác phòng,
chống tham nhũng
Luật đã bổ sung quy định về tiêu chí đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng
theo hướng quy định chung về các nội dung đánh giá cho phù hợp với chức năng
quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương. Trên cơ sở đó, giao Chính phủ
quy định các tiêu chí đánh giá nhằm bảo đảm tính chủ động và tính chịu trách
nhiệm của các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về công tác phòng, chống tham nhũng.
Theo đó, các tiêu chí đánh giá về công tác phòng, chống tham nhũng được xác
định theo các nội dung như: (i) Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp
luật về phòng, chống tham nhũng; (ii) Việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa
tham nhũng; (iii) Việc phát hiện tham nhũng; (iv) Việc xử lý tham nhũng và thu
hồi tài sản tham nhũng.
So với Luật sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2020 thì đã bỏ nội dung đánh giá về “số lượng, tính chất và mức độ của vụ việc,
vụ án tham nhũng”, đồng thời sửa đổi, điều chỉnh các nội dung của 02 tiêu chí
“Việc phát hiện và xử lý tham nhũng” và “Việc thu hồi tài sản tham nhũng” thành
tiêu chí “Việc phát hiện tham nhũng” và tiêu chí “Việc xử lý tham nhũng và thu
hồi tài sản tham nhũng” để phù hợp hơn.
2.Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về phòng, chống
tham nhũng Luật đã sửa đổi, bổ
sung quy định về ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, theo đó, các cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm tăng cường đầu tư thiết bị, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số trong hoạt động phòng chống tham nhũng; xây dựng hệ thông thông
tin, cơ sở dữ liệu đông bộ, bảo đảm liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia và an
toàn thông tin.
3.Quy định nguyên tắc về trách nhiệm giải trình
Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải
trình về quyết định, hành vi của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
được giao khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân bị tác động trực
tiếp bởi quyết định, hành vi đó. Chính phủ quy định chi tiết nguyên tắc, đối
tượng, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của cơ quan,
tổ chức, đơn vị, cá nhân về thực hiện trách nhiệm giải trình trong hoạt động
công vụ
4.Về cơ quan kiểm soát
tài sản, thu nhập
Luật đã điều chỉnh, hoàn thiện quy định về cơ quan kiểm soát tài
sản, thu nhập theo hướng quy định rõ hơn và xác định đầu tiên trong nhóm các
chủ thể kiểm soát tài sản, thu nhập. Theo đó, Ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên
trực tiếp cơ sở trở lên kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê
khai tài sản, thu nhập (sau đây gọi là người có nghĩa vụ kê khai) là người
thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và Đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc
có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy theo quy định
của Đảng.
5.Tăng giá trị tài sản,
mức thu nhập phải kê khai và kê khai bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế
hiện nay.
Kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có
biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở
lên. Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động
về tài sản, thu nhập. Theo quy định trước đây, người có nghĩa vụ kê khai bổ
sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300.000.000
đồng trở lên.
Bên cạnh đó, kê khai tài sản có giá trị cũng được Luật sửa đổi
theo hướng tăng giá trị tài sản phải kê khai từ 50 triệu đồng lên 150 triệu
đồng cho mỗi loại tài sản. Theo đó, quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây
dựng và tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; Kim khí quý,
đá quý, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ
150.000.000 đồng trở lên; Tài sản, tài khoản ở nước ngoài; Tổng thu nhập giữa
02 lần kê khai.
6.Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống tham nhũng
Theo Luật sửa đổi, bổ sung số 132/2025/QH15 thì đã sửa đổi, bổ
sung hành vi bị nghiêm cấm đối với
người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng theo hướng cụ
thể hơn, bao gồm các hành vi: (i) Đe dọa, dùng bạo lực, gây áp lực, vu khống,
cô lập, xúc phạm hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người phản ánh, tố
cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; (ii) Xâm phạm bất hợp pháp nhà ở, chỗ ở,
chiếm giữ, hủy hoại tài sản, xúc phạm nhân phẩm, danh dự hoặc có hành vi ảnh
hưởng đến sức khỏe, an toàn cá nhân của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành
vi tham nhũng; (iii) Trả thù hoặc thuê, nhờ, xúi giục người khác uy hiếp tinh
thần, trả thù người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; (iv) Thực
hiện không đúng quy định, phân biệt đối xử, đề ra tiêu chí, điều kiện, nhận
xét, đánh giá mang tính áp đặt gây bất lợi trong công tác cán bộ, khen thưởng,
kỷ luật đối với người phản ánh, tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; luân
chuyển, điều động, biệt phái người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham
nhũng khi đang giải quyết vụ việc; (v) Gây khó khăn, cản trở khi thực hiện chế
độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, giải quyết các thủ tục hành chính, các dịch
vụ công theo quy định của pháp luật, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghề
nghiệp, việc làm, lao động, học tập hoặc thực thi nhiệm vụ của người phản ánh,
tổ cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng.
7. Bổ sung một khoản mới
(khoản 3a) quy định về hành vi "Ngăn chặn, hủy bỏ thông tin, tài liệu,
chứng cứ về phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng; che giấu, không
báo cáo, trì hoãn hoặc xử lý, xác minh đề nghị, yêu cầu được bảo vệ không đúng
quy định; tiết lộ các thông tin cần được giữ bí mật trong quá trình bảo vệ;
không kịp thời chi đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của tổ chức, cá nhân trong
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ; không thay đổi người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ khi
có căn cứ xác định người đó thiếu trách nhiệm, không khách quan trong thực hiện
nhiệm vụ.”.