Một số quy định chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là
những thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể mà các bên không ký kết hợp đồng
hoặc có ký kết hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến nội
dung giao kết hợp đồng.
Thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm các loại thiệt hại sau:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; Thiệt
hại do sức khỏe bị xâm phạm; Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm; Thiệt
hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Bộ
luật Dân sự 2015 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng phát sinh khi có đầy đủ 3 yếu
tố sau đây:
(1) Có hành
vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền,
lợi ích hợp pháp khác của người khác;
(2) Có thiệt
hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần;
Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định
được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục
được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực
tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm,
uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm.
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà
chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi
thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó.
(3)
Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt
hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành
vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
2. Trách nhiệm bồi thường khi tài sản gây thiệt hại
Chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt
hại do tài sản gây ra.
Chủ sở hữu tài sản được xác
định tại thời điểm tài sản gây thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trường
hợp tài sản đang được giao dịch thì phải xác định thời điểm chuyển giao quyền
sở hữu để xác định chủ sở hữu tài sản gây thiệt hại.
Người chiếm hữu mà không phải là chủ sở hữu phải bồi
thường thiệt hại nếu đang nắm
giữ, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp tài sản như chủ thể có quyền đối với tài
sản tại thời điểm gây thiệt hại.
Chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản không
phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong trong trường hợp thiệt hại
phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt
hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác:
- Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra
một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc
dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
- Lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại là
toàn bộ thiệt hại xảy ra đều do lỗi của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại
không có lỗi.
3. Nguyên
tắc bồi thường thiệt hại
- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường
toàn bộ và kịp thời.
Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền,
bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc
nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn
so với khả năng kinh tế của mình.
- Quyền yêu cầu thay đổi mức bồi thường: Khi mức bồi thường không còn phù hợp
với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án
hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
- Các trường hợp không được bồi thường:
Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc
gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Bên
có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do
không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
cho chính mình.
4. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường
của cá nhân
- Người từ đủ mười tám tuổi
trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
- Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt
hại mà còn cha, mẹ
thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ
để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài
sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp thiệt hại do
người dưới mười lăm tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự gây ra trong thời
gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười
tám tuổi gây thiệt
hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi
thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
- Người chưa thành niên, người mất năng
lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây
thiệt hại mà có người
giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi
thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi
thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám
hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài
sản của mình để bồi thường.
Tuổi của người gây thiệt hại được tính tại thời điểm gây
thiệt hại. Trường hợp không xác định được chính xác tuổi của người gây thiệt
hại thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định như sau:Trường hợp xác định
được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó
làm ngày sinh; Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày,
tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng
sinh; Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày,
tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày,
tháng sinh; Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng
thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh; Trường
hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.Trường
hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người gây thiệt
hại thì Tòa án lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác
định tuổi của họ.
5. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi
thường thiệt hại
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền,
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Việc bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trước hoặc sau ngày 01/01/ 2017 (ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực) và đương sự khởi kiện
từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt
hại đều là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền,
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Thời điểm người có quyền yêu
cầu biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là khi họ nhận ra được
hoặc có thể khẳng định được về việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm.
Trường hợp người có quyền
yêu cầu phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm là trong điều
kiện, hoàn cảnh bình thường, nếu có thiệt hại xảy ra thì người đó biết quyền,
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc trường hợp pháp luật có quy định
phải biết./.
Ngọc Hiền, Văn phòng HĐND và UBND xã