Một số khó khăn, vướng mắc liên quan quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội
khoá 13 thông qua ngày 24/11/2015, có hiệu lực từ 01/01/2017. Đây là một trong
những đạo luật cơ bản trong Hệ thống pháp luật nước ta.
Bộ luật Dân sự đã có nhiều đột phá quan trọng, góp
phần triển khai thi hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc
biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt
Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân
trong lĩnh vực dân sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy được
vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự thực sự trở thành luật chung, luật nền của
hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên
tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia;
bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.
Tuy nhiên qua thực tiễn áp
dụng, Bộ luật Dân sự bộc lộ một số bất cập như sau:
1. Về tính thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật
khác: Nhìn chung, Bộ luật Dân sự năm 2015 cơ bản bảo đảm tính
thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành; tuy nhiên, một số quy định còn
mang tính nguyên tắc, khái quát, trong khi pháp luật chuyên ngành quy định cụ
thể theo từng lĩnh vực, nên thực tiễn áp dụng vẫn phát sinh khó khăn, cần tiếp
tục được hướng dẫn, hoàn thiện để bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất của hệ
thống pháp luật. Chẳng hạn, khái niệm “trái đạo đức xã hội” quy định tại Điều
123 Bộ luật Dân sự chưa được hướng dẫn cụ thể, trong khi các quy định xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, gia đình lại có cách tiếp cận khác
nhau. Bên cạnh đó, giữa Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai vẫn còn một số nội
dung chưa đồng bộ liên quan đến hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, gây lúng túng cho cán bộ trong quá trình hướng dẫn, hòa giải và giải
quyết các vụ việc phát sinh tại cơ sở…
2. Về nội dung điều khoản cụ thể:
(1) Một số quy định của Bộ luật Dân sự chưa theo
kịp sự phát triển của các quan hệ dân sự mới phát sinh trong thực tiễn, nhất là
đối với giao dịch điện tử, tài sản ảo, giao dịch thông qua mạng xã hội và các
nền tảng số. Khi phát sinh tranh chấp liên quan đến các giao dịch này, việc xác
định căn cứ pháp lý để hướng dẫn, hòa giải hoặc xử lý còn gặp nhiều khó khăn.
(2) Quy định về hình thức, thời hạn ủy quyền
Điều 563 Bộ luật Dân sự
quy định về thời hạn ủy quyền như sau:
Điều 563. Thời hạn ủy quyềnThời hạn ủy quyền do các
bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận
và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ
ngày xác lập việc ủy quyền.
Tại Điều 10 Luật Bảo hiểm
xã hội quy định về một trong những quyền của người tham gia và
người thụ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội là “Ủy quyền bằng văn bản cho
người khác thực hiện bảo hiểm xã hội. Trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ
cấp bảo hiểm xã hội và chế độ khác theo quy định của Luật này thì văn bản ủy
quyền có hiệu lực tối đa là 12 tháng kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Văn bản
ủy quyền phải được chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực”.
Quy định điểm d Khoản 2
Điều 10 Luật Bảo hiểm xã hội gây khó khăn cho người thụ hưởng bảo hiểm xã hội,
trong khi nhóm đối tượng này thường đã cao tuổi, sức khỏe kém. Đồng thời, việc
quy định về thời hạn ủy quyền gây áp lực giải quyết TTHC cho chính quyền, công
chức cấp xã.
Điều 119 Bộ luật Dân
sự quy định “1. Giao dịch dân sự được
thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Giao dịch dân sự thông qua
phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp
luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
2. Trường hợp luật quy
định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng
thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”
Về hình thức văn bản ủy quyền,
Luật Bảo hiểm xã hội quy định “Văn bản ủy quyền phải được chứng thực theo quy
định của pháp luật về chứng thực”.
Nội dung ủy quyền nhận chế
độ BHXH thường đơn giản, do đó, Luật Bảo hiểm xã hội nên quy định theo hướng
trường hợp người được ủy quyền là cha, mẹ, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi thì
không cần phải chứng thực.
(3) Quy định về xác định dân tộc, xác định lại
dân tộc
- Về xác định dân tộc của
trẻ em được nhận làm con nuôi
Tại Khoản 2 Điều 29 Bộ
luật dân sự quy định “Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha
đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị
của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang
tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em”.
Tuy nhiên, tại Khoản 3 Điều
14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định về xác định dân tộc cho trẻ em bị bỏ
rơi quy định “Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ
trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ
rơi”.
- Ngoài ra, Bộ luật Dân sự
chưa có các quy định như:
+ Cá nhân được xác định lại
dân tộc bao nhiêu lần;
+ Sau khi cha, mẹ được xác
định lại dân tộc thì con có phải thực hiện thủ tục xác định lại dân tộc không;
+ Quy định về việc con
được quyền xác định lại dân tộc theo dân tộc cha, mẹ nuôi sau khi được nhận làm
con nuôi.
(4) Quy định về quyền chuyển đổi giới tính
Tại Điều 37 Bộ luật dân sự quy định về quyền chuyển
đổi giới tính; nhưng đến thời điểm này chưa có Luật Chuyển đổi giới tính./.
(Trích Báo cáo số 188/BC-UBND ngày 19/5/2026
của UBND xã Diễn Châu về tổng kết thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 trên địa bàn
xã Diễn Châu)